Wednesday, December 2, 2015

Suy Niệm Tin Mừng Thứ Ba Tuần thứ Nhất Mùa Vọng (Luca 10:21-24)



Isaiah 11:1-10 ; Luke 10:21-24
Suy Niệm Tin Mừng Thứ Ba tuần thứ Nhất Mùa Vọng
Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu chúc tụng Thiên Chúa Cha của Ngài vì Chúa Cha đã cho tất cả những phép lạ Ngài làm trong cuộc sống với các môn đệ, để bộc lộ cho họ những sự thuộc về Thánh Linh.
Làm thế nào để những cho con người biết Thiên Chúa Cha? Chúng ta biết được Chúa Cha nhờ qua chính Chúa Con là Chúa Giêsu Kitô. Đây là một món quà mà Chúa Giêsu đã ban cho cho tất cả những ai mà Ngài đã chọn. Trí tuệ và trí thông minh của con người không phải chỉ là những phẩm chất cần thiết để đạt được kiến thức này mà thôi, Trong thực tế, trí thông minh của con người chúng ta có thể sẽ là một trở ngại lớn cho đức tin của chúng ta, vì con người chúng ta thường có xu hướng dựa nhiều vào sự hiểu biết thực tiển hơn là dựa vào đức tin. Chúng ta có thể sẽ đưa ra quyết định dựa trên những gì là phù hợp với sự hiểu bên ngoài, những tiện nghi, thuận lợi và thoải mái cho chúng ta theo tính chất xác phàm. Do đó Đức Giêsu đã chúc phúc cho những người có tâm hồn khiêm tốn, có cuộc sống đơn sơ như kiểu trẻ con và đó là những người mà Ngài sẽ tỏ lộ cho biết Thiên Chúa Cha. Họ là những người có thể làm theo Chúa mà không có thành kiến hay nghi ngoặc vì họ tin tưởng vào lòng nhân từ và tình yêu thương của Chúa. Họ là những người được Thiên Chúa hứa hẹn ban cho những Ân Sủng của Chúa Thánh Thần.
Trong Mùa Vọng này, chúng ta hãy dâng lên Chúa với nguyện vọng là có được sự giàu có, nhưng là một sự giàu có không bao giờ bị phai mờ, không bị mối mọt, hay rỉ sét. Hy vọng Mùa Vọng này nhắc nhở chúng ta là chúng ta có một quê hương trên ở trời và sẽ được cùng an hưởng hạnh phúc muôn đời với Chúa Kitô.
"Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con sự đơn sơ như những em bé và một đức tin thanh khiết để biết nhìn lên khuôn mặt của Chúa với niềm vui và tự tin trong tình yêu nhân hậu vô biên của Chúa. Xin Chúa hãy xoá bỏ và lấy đi tất cả mọi sự nghi ngờ, sợ hãi, và những tư tưởng tự hào trong chúng con vì chúng sẽ những thứ sẽ cản trở chúng con đến với Chúa để đón nhận Lời Chúa với sự tin tưởng và lòng khiêm tốn.

Suy Niệm Tin Mừng Thứ Ba Tuần thứ Nhất Mùa Vọng (Luca 10:21-24)
Hôm nay, chúng ta được thấy trong đoạn Tin Mừng của Thánh Luca cho thấy . Sau Chúa Giêsu đã sai bảy mươi hai môn đệ đến các làng mạc và thị trấn để rao giảng Tin Mừng. Họ trở về trong thành công và hoan hỉ.  Sau khi nghe các báo cáo về các việc làm của môn đệ, Ðức Giêsu đã hớn hở vui mừng và nói “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha,  …  vì đó là điều đẹp ý Cha"  (Lc 10:21).
            Một trong những khía cạnh của sự khiêm nhường là lòng biết ơn. Và  một trong những khía cạnh của sự kiêu ngạo là tự cảm thấy mình không có nợ một ai bất cứ thứ gì.  Để cảm nghiệm được sự biết ơn, Việc đầu tiên chúng ta cần làm là phải tự khám phá ra sự vô nghĩa của chúng ta. "Cảm ơn" là một trong những lời đầu tiên mà chúng ta thường dạy cho con em của chúng ta. “con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn”   (Lc 10:21).
            Đức Thánh Cha Biển Đức 16,  khi nói về thái độ tôn thờ, ngài đã xác nhận «rằng thờ lạy Thiên Chúa có nghĩa là thừa nhận sự hiện diện của Ngài như là Đấng Tạo Hóa và là Chúa của vũ trụ. Các dấu hiệu của sự thờ phượng là, thừa nhận sự vĩ đại của Thiên Chúa được phát sinh ra từ tận đáy lòng của con người chúng ta và được đánh dấu nơi toàn thể con người, (...) đảm bảo và chắn chắn rằng Thiên Chúa là phần quan trọng nhất trong đời sống con người của chúng ta với sự nhận thức rằng Thiên Chúa là trung tâm trong cuộc sống của chúng ta  với mục đích làm cho sự tồn tại của con người được trở nên rõ ràng hơn».
             Một tâm hồn nhạy cảm biết cảm nhận và thấy rằng cần phải bày tỏ lòng biết ơn của mình. Đó là cách duy nhất để chúng ta đáp lại tất cả những ân huệ của Thiên Chúa  đã ban cho chúng ta. “Thật vậy, Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh”(1Co 4:7). Chúng ta phải chắc chắn «tạ ơn Thiên Chúa Cha, qua Con của Ngài, trong Chúa Thánh Thần, bởi vì trong tình yêu tuyệt vời củaNgài đã cho chúng ta Ngài đã có tình thương xót chúng ta, và khi chúng ta đã chết trong tội lỗi của chúng ta, Ngài đã đưa chúng ta đến môt cuộc sống với Chúa Kitô, vì thế, trong Thiên Chúa chúng ta có thể là một sáng tạo mới “ (Thánh Lêô Cả).
            Một cách tốt nhất để chuẩn bị con đường cho Thiên Chúa trong Mùa Vọng này một cách thiết thực  là hãy tăng trưởng và sống trong sự khiêm nhường và đơn sơ,  biểt mở rộng tâm hồn của chúng ta để đón nhận những món quà của Thiên Chúa,  và hãy sống trong hy vọng và trở thành nhân chứng tốt hơn cho vương quốc của Chúa Giêsu Kitô trong mỗi ngày.

Comment: Fr. Jean GOTTIGNY (Bruxelles, Belgium)  I praise you, Father,
Today, we are reading an excerpt of Chapter 10, of the Gospel after St. Luke. The Lord had sent seventy-two disciples to the towns He intended to visit. And they came back exultant. While listening to the accounts of their doings and exploits, «Jesus was filled with the joy of the Holy Spirit and said, ‘I praise you, Father, Lord of heaven and earth’» (Lk 10:21).  One of the aspects of humility is gratitude. The arrogant one feels he owes nothing to anybody. To feel grateful, we need first to discover our insignificance. “Thanks” is one of the first words we teach our children. «I praise you, Father, Lord of heaven and earth, for you have hidden these things from the wise and learned, and made them known to the little ones» (Lk 10:21).
            Benedict XVI, when speaking of the attitude of adoration, he affirms «that adoring God means recognizing his presence as Creator and Lord of the Universe. The hallmark of worship is, recognizing the greatness of God that arises from the depths of one's heart and marks one's whole being, (…) ensuring that God is the most important part of one's life with the realization that with God at the centre of our lives the purpose of their existence will become clear». A sensible soul feels the need to express its gratitude. It is the only way for us to reciprocate for the divine favors received. «What do you possess that you have not received?» (1Co 4:7). We must certainly «give thanks to God the Father, through his Son, in the Holy Spirit, because in his great love for us He took pity on us, and when we were dead in our sins he brought us to life with Christ, so that in him we might be a new creation» (St. Leo the Great).

Suy Niệm Tin Mừng Thứ Hai Tuần thứ Nhất Mùa Vọng (Mt. 8:5-11 )



Suy Niệm Tin Mừng Thứ Hai Tuần thứ Nhất Mùa Vọng (Mt. 8:5-11 )
Quan đội trưởng La mã là người dân ngoại đầu tiên mà chúng ta được thấy trong Phúc Âm của thánh Matthew sau sau ba người thông thái ở phương Đông viếng Chúa Giêsu Hài Đồng. Như những người Thông thái Đông Phương, Quan đội trưởng la mã này cũng đã nhận ra rằng Chúa Giêsu là Chúa.  Viên quan đội trưởng la mã đã đạt niềm tin vào uy quyền của Chúa để xin chữa bệnh và cứu sống một người đầy tớ của ông ta.. Ông ta không xin Chúa chửa bệnh hay cứu chữa những người thân trong nhà mà ông ta chỉ xin chúa cứu sống người đầy tớ rẻ tiền của ông ta.
            Viên quan đội trưởng La mã  này không phải chỉ yêu cầu  Chúa chửa bệnh  để xem phép lạ  chữa bệnh của Chúa. hay ông ta yêu cầu những bằng chứng về những phép lạ của Chúa. Thay vào đó, viên Đội trưởng này đã có lòng tin mạnh mẽ trong sự  tín thác, khiêm tốn và tin tưởng chắn rằng Chúa Giêsu sẽ làm được điều kì diệu và tốt đẹp cho người tôi tớ ốm đau  của mìn. Chúa Giêsu coi những điếu viên đội trrưởng đã làm cho người tôi tớ của ông ta là một đức tin sống mạnh . Đức tin là sự bảo đảm những điều hy vọng, niềm tin của những thứ vô hình, không thấy, không cảm giác (Hb. 11:1). Đó là sự tự tin tưởng về một hay những điều gì đó mà chúng ta không thể kiểm soát được. đó là phép lạ..
            Trong nhiều câu chuyện, chính việc chữa bệnh của Chúa dường như là tậm  điểm trong các phép lạ của Chúa Giêsu.  Trong Tin Mừng hôm nay, tuy nhiên, Chúa Giêsu đã không đặt trọng tâm trong việc chữa lành, hay đúng hơn, Chúa Giêsu đã đặt trọng tâm trong bài học hôm nay là cái  đức tin sâu sắc của Viên quan đội trưởng  người La Mã này. Chúng ta thật sự cần đến nhu cầu chữa bệnh của Chúa  bằng cách nào đây?  Chúng ta cần cứu chữa cơn đau bệnh thể lý đang hành hạnh thân xác chúng ta?  Hay là cần cứu chữa một cơn đau khổ tinh thần, vô hình đang gặm nhấm tâm hồn đau khổ của chúng ta ?  Chúng ta có thể khiêm tốn xin Chúa Giêsu cứu giúp chúng ta?  Chúng ta có tin chắc rằng Chúa sẽ ban ơn phước lành của Ngài cho chúng ta với một đặc ân nào đó tốt lành cho chúng ta?.
            Hãy bắt chước viện đội trưởng người La mã, đặt hết niềm tin tưởng và  trông cậy vào nơi Chúa, cộng với sự rộng lương, biết ơn và yêu thương những người chúng quanh, nhất những người cộng sự viên của chúng ta,  Lạy Chúa, mặc dù chúng con không xứng đáng với tình yêu của Chúa, Nhung Chúng con tin tưởng  với lượng từ bì và lòng thương xót của Chúa, Xin Chúa thương xót chúng con là những tôi tớ yếu hèn của Chúa..

Suy Niệm Bài Đọc lễ Thánh Andrê Tông Đồ



Suy Niệm Bài Đọc lễ Thánh Andrê Tông Đồ
Thánh  Andrê lúc đầu là môn đệ của Thánh Gioan Tẩy Giả. Và sau này ông và anh của ông là Simon ( Phêrô) đã được Chúa Giêsu gọi để theo Ngài lúc hai người đang đánh cá, Hai ông đã trở thành những người thợ đánh cá người..Khi Chúa gọi hai ông, Họ đã để lại tất cả mọi thứ để theo Ngài. Trong bài đọc thứ nhất, Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng tất cả những ai,  Do Thái hay Dân Ngoại đều giống như nhau, được gọi để theo Chúa Giêsu, nhưng không phải tất cả mọi người biết lắng nghe Tin Mừng của Chúa. Chúng ta đã nghe lời mời gọi đó và thể hiện sự chấp thuận của chúng ta bằng sự tin tưởng ngay từ trong tâm hồn và chúng ta đã tự thú nhận với lời tuyên xưng đức tin của chúng. Đức tin mà chúng ta đã nhận được là kho tàng to lớn lớn nhất của chúng ta và nếu chúng ta để mất đức tin đó, thì chúng ta sẽ có sự mất mát to lớn nhất ngay cuộc đời của chúng ta. Vì đó là một món quà vô giá và và cao quý vô cùng mà Thiên Chúa đã trao ban cho tất cả mọi người chúng ta, Do đó chúng ta phài dồn nỗ lực để chia sẻ niềm tin này cho những người khác như thánh Phêrô và Anrê , những kẻ 'chài lưới người ". Sự Chia sẻ đức tin này có thể được thực hiện bằng nhiều cách, và các phương tiện sẵn có nơi mỗi người chúng ta đó là cách sống một đời sống Kitô hữu tốt hơn, nuôi dưỡng đức tin của chúng ta bằng tình yêu của Thiên Chúa trong lời cầu nguyện kiên trì và liên tục.
Kinh nghiệm của Thánh Thêrêsa Hài Đồng, Bổn Mạng của các cộng đoàn truyền giáo, người đã làm công việc truyền giáo của mình ngay bên trong các bức tường cấm của một tu viện kín. Chúng ta cũng có thể cộng tác với Chúa Giêsu trong Giáo Hội bằng cách loan báo Tin Mừng tình yêu của Thiên Chúa đến với tất cả mọi người.
Lạy Chúa, Xin cho những gương sáng của thánh Andrê thúc đẩy nơi chúng con sự mong muốn  và khát khao chia sẻ niềm tin của chúng con với những người khác, đặc biệt là biết rộng lượng trong tình yêu thương Chúa và những người chung quanh chúng con.

30th Nov 2013 St Andrew, Apostle (Rom. 10:9-18;  Mt. 4:18-22)
Andrew had been a follower of St John the Baptist. When he and Peter were called by Jesus to be His followers, and fishers of men, they left all things to follow Him. In the first reading, St Paul tells us that all men, Jews and Gentiles alike, are called to follow Jesus but that not all will listen to the Good News.  We have heard that call and manifest our acceptance by believing from our heart and confessing with our lips. The faith we have received is our greatest treasure and to lose it would be our greatest loss. Since it is a priceless gift and is offered to all men and women, it shoud be our endeavour to share this faith like Peter and Andrew who were ‘fishers of men’. This sharing of faith can be done in many ways, and the means available to each one of us is to live a better Christian life nourished by the love of the Lord in prayer.
            The experience of St Theresa of the Child Jesus, Patroness of the Missions, who did her missionary work from within the walls of a convent, is our assurance that we too can collaborate with Jesus in the Church by spreading the Good News of God’s love to all people.
   Lord, may the example of St Andrew spur within us the desire to share our faith with others, especially by being generous in loving You and our fellowmen and women.

Chúa Nhật thứ Nhất Mùa Vọng, năm C



Chúa Nhật thứ Nhất Mùa Vọng, năm C
Mỗi khi động từ "nhớ" được dùng trong Cựu Ước, thì hầu như chữ Nhớ này luôn được đề cập đến Thiên Chúa: Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa luôn luôn nhớ những lời giao ước của Ngài mãi mãi, trong khi chúng ta lại luôn có những chiều hướng quên đi nhiều hơn; chúng ta hay quên cám ơn và nói lên những lời cám ơn, và sự yêu thương. Việc “Nhớ Lại” những giao ước của Thiên Chúa là việc rất cần thiết và phải được bao gồm việc tưởng nhớ  đến  một Đấng Cứu Chuộc của chúng ta, của Nhân loại đó là Thiên Chúa của chúng ta [Gen 3:15].
Hôm nay chúng ta bắt đầu mùa Phụng Vụ mới, chúng ta cử hành mầu nhiệm Thánh Thể để nhớ đến giao ước  tuyệt vời này của Thiên Chúa. Lời Hứa là một trong những danh từ và là ngôn ngữ của tình yêu và vì thế Lời Hứa cũng là một trong những ngôn ngữ của niềm hy vọng. Trong phụng vụ của Mùa Vọng này được đánh dấu  với chủ đề của niềm hy vọng. Trong khi chữ "hy vọng" có thể không được thấy nhiều trong các bài đọc và các bài đáp ca một cách rõ ràng, những có nhiều chữ khác được dùng cùng vớí chủ đề đó đã nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa của Mùa Vọng, và từ đó đã biểu lộ cho chúng thấy được một bầu không khí của sự kỳ vọng, một điều chắc chắn rằng, trong bóng tối đen của thế giới này, chúng ta sẽ thấy được những sự khủng bố đã gây ra bởi bạo lực. Ánh sáng thật sự đang bắt đầu tỏa sáng và chúng ta được tận hưởng lời hứa mà Thiên Chúa đã Hứa với chúng ta là ánh sáng sẽ chinh phục bóng tối như tình yêu chiến thắng tất cả những sự chia rẽ và hận thù, và niềm vui sẽ loại bỏ những phiền muộn nơi tâm hồn của chúng ta, 
Lạy Chúa Cha Trên Trời, Xin ban cho chúng con trong Mùa Vọng với tất cả kinh nghiệm tâm sâu hơn và phổ quát hơn trong sự bình an mà Chúa Giêsu đã mang lại cho chúng con, và sự hòa bình mà thế giới này không thể nào mang đến cho chúng con.

First Sunday of Advent,
Whenever the verb “remember” occurs in the Old Testament, it almost invariably refers to God: our God is a God who remembers his Covenant forever, while we are more inclined to forget , we forget to be thankful, just and loving. Remembering the Covenant necessarily includes remembering the divine of a Redeemer [Gen 3:15].
Today we begin our celebration of God’s remembrance of this great covenantal promise.

Promise is one of the words of the language of love and thus also one of the words of the language of hope. The Advent liturgy is strongly marked by the theme of hope. While the word “hope” may not explicitly occur in the readings and antiphons there are many other words and themes which remind of the meaning of Advent, words which express an atmosphere of expectancy, a certainty that, in the darkness of a world so terrorized by violence, the true light is beginning to shine and we enjoy the promise that the light will conquer the darkness as love will conquer all divisions and hatred, and joy will remove the sorrow from our heart,
 Father in Heaven, during this Advent grant us all a deeper and more universal experience of the peace which Jesus brought us, that peace which the world cannot give.